Tác dụng của cây mã tiền

Cẩm nang CovidNgày: 22-02-2022 bởi: Nguyễn Bảo Phúc

Tác dụng của cây mã tiền

Cây mã tiền là vị thuốc Y Học Cổ Truyền, mã tiền có nhiều công dụng hữu ích đối với sức khỏe như thông kinh lạc, chỉ thống, tiêu thũng, mạnh gân cốt và mạnh tỳ vị. Tuy nhiên, vị thuốc mã tiền có độc tính có thể gây liệt hô hấp dẫn tới tử vong, vì vậy bạn cần thận trọng khi sử dụng vị thuốc này để chữa bệnh.

1. Cây mã tiền

Cây mã tiền là cây thân gỗ cao từ 5 – 12m, thậm chí có thể cao tới 25m, phân cành trên 7m. Vỏ thân cây có màu xám trắng, cành non nhẵn, đôi khi có gai ở nách lá. Lá đơn, mọc đối xứng, mặt trên lá bóng có 5 gân hình cung, gân nhỏ hình mạng.

Cây ra cụm hoa ở nách lá đầu cành, có hình ngù tán, mỗi cụm có 8-10 hoa, 4-6 cụm họp thành tán. Hoa có màu trắng hoặc vàng nhạt, có mùi thơm. Quả mã tiền hình cầu, đường kính từ 2,5 – 4cm. Khi chín quả có màu vàng lục, bên trong c từ 1-5 hạt hình tròn dẹt như chiếc khuy áo, một mặt lồi và một mặt lõm, trên hạt có lông mượt bóng. Cây mã tiền mọc hoang ở các vùng núi khắp nước ta.

2. Thu hái và bào chế vị thuốc mã tiền

Vị thuốc mã tiền là phần hạt của quả mã tiền. Thu hái dược liệu diễn ra vào mùa đông, hái những quả già mang về bổ ra lấy hạt, loại bỏ phần thịt quả, hạt lép, hạt non hay đen ruột. Những hạt đạt chất lượng sẽ đem phơi nắng hoặc sấy ở nhiệt độ 50 – 60 độ C đến khô.

Bào chế vị thuốc mã tiền theo Tây y sẽ tiến hành như sau: Rửa nhanh hạt mã tiền bằng nước sau đó đem đồ lên, khi thấy mềm thì thái mỏng. Sau đó xay trong cối sắt, sấy khô, rồi lại tán trong cối bằng sắt kín sẽ thu được bột màu vàng xám, rất đắng, có chứa 2,5% alkaloid toàn phần.

Bào chế vị thuốc mã tiền theo Trung y sẽ tiến hành như sau: Cho cát vào nồi đất, rang nóng đến 100 độ C, sau đó bỏ hạt mã tiền vào sao nóng tới 200 độ C. Dưới tác dụng của cát nóng hạt mã tiền sẽ phồng lên, nổ lép bép, lớp lông nhung ở ngoài cháy vàng. Rang cho tới khi lớp vỏ ngoài có đường tách nẻ thì lấy hạt và cát ra, sàng bỏ cát. Cho hạt mã tiền vào máy quay cho sạch lông nhung đã bị cháy, rồi đem đi tán bột.

Bào chế vị thuốc mã tiền theo kinh nghiệm Việt Nam: Trong Y Học Cổ Truyền chỉ sử dụng hạt Mã tiền đã được bào chế (còn gọi là Mã tiền chế). Có nhiều cách bào chế:

– Ngâm hạt mã tiền trong nước vo gạo trong một ngày một đêm cho tới khi mềm, lấy ra cạo bỏ vỏ ngoài và mầm, sau đó thái mỏng, sấy khô rồi tán nhỏ.

– Cho hạt mã tiền vào trong dầu vừng rồi đun sôi cho tới khi hạt mã tiền nổi lên thì vớt ra ngay (nếu chậm sẽ bị cháy đen, mất tác dụng). Sau đó thái nhỏ sấy khô rồi dùng.

– Ngâm hạt mã tiền trong nước hay nước vo gạo cho tới khi mềm. Lấy ra bóc vỏ để riêng, nhân để riêng. Sao vỏ và lông riêng, sao nhân riêng, rồi tán nhỏ riêng từng thứ. Phương pháp này thường được dùng chữa bệnh chó dại.

Hạt mã tiền sống thuốc nhóm độc bảng A; Hạt mã tiền đã bào chế thuốc nhóm độc bảng B. Vị thuốc mã tiền rất dễ sâu mọt, hút ẩm đen ruột, vì vậy, cần được bảo quản nơi khô ráo để tránh mốc mọt.

3. Tác dụng của vị thuốc mã tiền theo y học hiện đại

Các hoạt chất được tìm thấy trong hạt cây mã tiền gồm có:

– Hoạt chất trong hạt mã tiền là alkaloid (2-5%), trong đó gần 50% là strychnin, phần còn lại là brucin, và khoảng 2-3% là các alkaloid khác như α-colubrin, β-colubrin, novacin, vomicin, pseudostrychin…

– Ngoài alkaloid, trong hạt mã tiền còn có chứa chất béo (4-5%), acid igasuric, acid loganic, stigmasterin, cycloarterol và một glycosid là Loganin.

– Trong lá của cây mã tiền có khoảng 2% và trong vỏ thân cũng có trên 8% alkaloid nhưng chủ yếu là brucin.

– Hạt mã tiền dùng làm thuốc cần phải chứa 1,2% strychnin mới đạt tiêu chuẩn.

Tác dụng của vị thuốc mã tiền là do tác dụng của strychnin:

– Đối với thần kinh trung ương và ngoại vi: Strychnin trong hạt mã tiền có tác dụng kích thích với liều nhỏ, và tác dụng gây co giật với liều cao. Strychnin có tác dụng kích thích trên tế bào vận động của hệ thần kinh trung ương tương đối mạnh hơn, đặc biệt là trên tủy sống. Strychnin kích thích những khả năng về trí não, làm tăng cảm giác về thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác và cơn đau.

– Đối với tim và hệ tuần hoàn: Strychnin trong hạt mã tiền có tác dụng tăng huyết áp, do làm co nhỏ các mạch máu ngoại vi.

– Đối với dạ dày và hệ tiêu hóa: Strychnin trong hạt mã tiền làm tăng bài tiết dịch vị, tăng tốc độ chuyển thức ăn sang ruột. Tuy nhiên nếu dùng liên tục sẽ gây rối loạn tiêu hóa, rối loạn co bóp dạ dày.

Độc tính: Vị thuốc mã tiền rất độc. Khi bị ngộ độc bạn sẽ có hiện tượng ngáp, chảy nhiều nước dãi, nôn mửa, sợ ánh sáng, mạch nhanh và yếu. Tứ chi bị cứng đờ, co giật nhẹ rồi đột nhiên có triệu chứng giống như uốn ván nặng với hiện tượng rút gân hàm, đồng tử mở rộng, lồi mắt, bắp thịt tứ chi và thân bị co lại, sự co cơ gây khó thở và ngạt. Liều cao Strychnin từ 60 – 90mg có thể gây tử vong vì liệt hô hấp.

Trong Y học hiện đại, mã tiền được dùng làm thuốc kích thích thần kinh, tăng phản xạ của tủy, tăng cường sức mạnh và dinh dưỡng của cơ, dùng chữa tê liệt, giảm nhu động ruột, đái dầm vì cơ tròn bàng quang yếu không khép được và yếu bộ phận sinh dục.

4. Tác dụng của vị thuốc mã tiền theo Y Học Cổ Truyền

Trong Đông y, vị thuốc mã tiền có vị đắng, tính hàn, có độc, thuốc đi vào các kinh can, tỳ.

Công năng, chủ trị của vị thuốc mã tiền:

– Công năng: Vị thuốc mã tiền có tác dụng thông kinh lạc, chỉ thống, tán kết, tiêu thũng, trừ phong thấp và tê bại, mạnh gân cốt, mạnh tỳ vị.

– Chủ trị: Vị thuốc mã tiền thường được dùng trong điều trị các chứng viêm, sưng đau, nhọt độc, viêm họng.

+ Phụ nữ bị viêm âm đạo có thể sử dụng hạt mã tiền ngâm nước khoảng 3 ngày, rồi bóc bỏ lớp vỏ ngoài, phơi nắng phần hạt trong cho khô rồi bỏ vào rang vàng với dầu mè, tán bột đắp lên chỗ sưng.

Điều trị đau tê, bại liệt dùng mã tiền với cam thảo, đương quy, nhũ hương.

Điều trị đau nhức cơ bắp dùng mã tiền cùng tử với ma hoàng, nhũ hương, một dược ngâm rượu để xoa bóp chỗ sưng đau, cũng có thể uống với liều nhỏ.

Liều dùng:

– Mã tiền sống: Mã tiền ngâm rượu để xoa bóp bên ngoài.

– Mã tiền chế: Dùng dưới dạng bột hay thuốc sắc, ngày uống từ 0,1- 0,3g, dùng phối hợp với các vị thuốc khác, uống lúc no.

Kiêng kỵ: Không dùng vị thuốc mã tiền cho những trường hợp sau:

– Trẻ dưới 3 tuổi

– Phụ nữ đang mang thai

– Người bị mất ngủ

– Nam giới bị di hoạt tinh

– Người yếu hay thể trạng suy nhược

Độc tính:

Vị thuốc mã tiền tử rất độc, thông thường chỉ dùng bên ngoài. Nếu dùng thuốc uống thì phải rang hay chiên với dầu mè để giảm bớt độc tính.

Nếu dùng quá liều bạn có thể có những triệu chứng như khô cổ, chóng mặt, nhức đầu, tê bại toàn thân, khó thở. Khi đó cần dùng 6g Quế chi, 60g Cam thảo, 12g Ngũ bội tử sắc uống để giải độc.

Vị thuốc mã tiền thường được sử dụng để điều trị các bệnh về tiêu hóa, rối loạn nhịp tim và hệ tuần hoàn, bệnh mắt, bệnh phổi, nhức đầu migraine, trầm cảm, triệu chứng mãn kinh, thiếu máu, bệnh Raynaud, kích thích sự thèm ăn, rối loạn chức năng cương dương.

5. Một số bài thuốc sử dụng vị thuốc mã tiền

5. 1. Bài thuốc điều trị đau nhức, viêm khớp và tê bì do phong thấp

Sử dụng bột hương phụ chế 13g, bột địa liền 6g, bột quế chi 3g, bột mộc hương 8g, bột mã tiền chế 50g, bột thương truật 20g. Làm thành 1000 viên hoàn, mỗi ngày sử dụng từ 4 – 6 viên. Dùng khoảng 50 viên thì ngừng và tiếp tục lặp lại liệu trình cho đến khi khỏi.

5. 2. Bài thuốc điều trị viêm khớp và viêm khớp dạng thấp

Sử dụng các vị thuốc ngưu tất, thương truật, nhũ hương, cam thảo, toàn yết, bạch cương tàm, một dược và ma hoàng mỗi vị 36g và mã tiền tử 300g.

Cách bào chế như sau: cho mã tiền cho vào nồi đất, cho nước và cho vào 300g đậu xanh nấu đến khi đậu xanh nứt ra. Lấy mã tiền ra, bóc bỏ lớp vỏ đen, thái lát, phơi khô sau đó cho vào nồi đất, sao với cát cho tới khi chuyển thành màu vàng đen. Một dược và nhũ hương đem cho lên miếng ngói, sao đến khi hết dầu là được. Các vị thuốc còn lại thì cho vào nồi đất, sao vàng. Cuối cùng tán bột các vị thuốc và trộn đều.

Dùng từ 0.5 – 1g bột cùng với rượu, nên dùng trước khi ngủ. Sau khi dùng thuốc cần tránh gió và cần giảm liều đối với người già, người có sức khỏe kém.

5. 3. Bài thuốc điều trị chứng tê dại khu trú và toàn thân

Sử dụng các vị thuốc sau: Ngưu tất, mộc qua, ma hoàng và toàn đương quy mỗi vị 170g, chế một dược và chế nhũ hương mỗi vị 80g, phụ tử chế 40g, xuyên ô chế , độc hoạt, khương hoạt, chế mã tiền tử và chế thảo ô mỗi vị 200g.

Tán các vị thuốc thành bột mịn, sau đó sắc 60g quế chi, trộn đều với bột làm thành hoàn to bằng hạt đỗ xanh. Mỗi lần dùng 3 – 4g uống với nước sôi ấm, nên dùng trước khi ngủ.

5. 4. Bài thuốc điều trị đau vai gáy và đau mỏi do phong thấp

Dùng các vị thuốc: Huyết kiệt 60g và mã tiền chế 30g (sao cháy vàng). Đem tán thành bột mỗi lần dùng khoảng 1.5g, ngày dùng 2 lần.

5. 5. Bài thuốc điều trị chứng suy nhược cơ

Sử dụng vị thuốc mã tiền tán bột mịn. Chế thành viên bọc, mỗi viên khoảng 0.2g. Mỗi lần uống 1 viên, ngày uống 3 lần. Cứ sau 2 – 4 ngày lại tăng lên 1 viên cho tới khi mỗi ngày dùng 7 viên. Tuy nhiên, việc sử dụng cần tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa.

5. 6. Bài thuốc điều trị chứng loạn dưỡng cơ tiến triển

Sử dụng các vị thuốc sau: Hoàng kỳ 20g, hoài sơn và đảng sâm mỗi vị 15g, cam thảo 30g, xích thược, địa long, bạch truật, thỏ ty tử, ngưu tất, thục địa, bạch linh, câu kỷ tử và đương quy mỗi vị 9g, mã tiền chế 0.3g (ngâm với nước trong vòng 7 ngày, sau đó vớt ra, thái mỏng, phơi khô và ép cho hết dầu). Đem các vị thuốc trên (trừ mã tiền) sắc lấy nước uống và hòa thêm mã tiền vào.

5. 7. Bài thuốc điều trị di chứng bại liệt ở trẻ em

Sử dụng các vị thuốc sau: Xuyên tỳ giải, tục đoạn, mộc qua, dâm dương hoắc (chích), nhục thung dung, mã tiền tử (sao cát), ô tặc cốt, ngưu tất, đương quy, ô xà nhục, ngô công và cẩu tích mỗi vị 30g, bạch cương tàm và thỏ ty tử mỗi vị 60g.
Đem các vị thuốc trên tán thành bột mịn. Lấy riêng vị dâm dương hoắc sắc lấy nước để hòa bột thuốc làm thành hoàn. Mỗi lần sử dụng từ 0,3 – 1g với nước ấm, ngày dùng 3 lần. Nếu cơ thể yếu mệt thì nên giảm liều lượng.

5. 8. Bài thuốc điều trị cơ thể suy nhược và chân tay yếu

Sử dụng các vị thuốc: Ngô công 5 con, đương quy, xuyên sơn giáp, một dược, nhũ hương và mã tiền mỗi vị 30g, bạch truật và đảng sâm mỗi vị 60g.

Tán các vị thuốc trên thành bột mịn, hòa với mật làm thành viên hoàn bằng hạt đỗ xanh. Ngày uống 2 lần, mỗi lần dùng khoảng 2 – 4g với rượu ấm.

5. 9. Bài thuốc điều trị liệt cơ hô hấp

Sử dụng hai vị thuốc địa long và mã tiền tử lượng bằng nhau. Đem tán thành bột mịn, trộn đều. Mỗi lần uống khoảng 2.4g, chia thành 2 lần dùng. Nếu có chứng hư nên gia thêm sinh mạch tán, chứng thực gia thêm thừa khí thang. Đối với trẻ em cần giảm liều lượng.

5.10. Bài thuốc điều trị liệt mặt

Bài số 1: Dùng 500g mã tiền đun sôi trong 28 phút, bỏ vỏ cắt phân nhân thành lát. Sau đó để lên giấy và đặt trên miếng ngói đã tẩm giấm, nung cho mã tiền khô hoàn toàn, tán thành bột mịn, trộn đều với giấm làm thành hồ, rồi đun trong 25 phút với lửa nhỏ. Bôi hồ còn hơi ấm lên vùng má không bị lệch. Cứ 24 giờ thì thay 1 lần, nếu trời mát lạnh thì thực hiện từ 12 – 14 ngày và 7 – 9 ngày nếu trời ấm nóng.

Bài số 2: Chuẩn bị mã tiền lượng vừa đủ, ngâm với nước trong vòng 24 giờ. Sau đó vớt ra, thái theo chiều dọc, bề dày 1mm. Dán chúng lên miếng keo dán, sau đó dán lên vùng má bị liệt, 7 ngày thay 1 lần.

5.11. Bài thuốc điều trị đau nhức khớp mãn tính và khớp bị biến dạng

Sử dụng các vị thuốc: Nhũ hương và một dược mỗi vị 155g, mộc qua, đương quy, ma hoàng, ngưu tất mỗi vị 335g, phụ tử chế 70g, khương hoạt, độc hoạt, thảo ô chế, xuyên ô chế, mã tiền tử chế mỗi vị 380g.
Đem tất cả các vị thuốc trên tán thành bột mịn. Sau đó dùng 125g quế chi sắc đặc, dùng nước hòa với bột thuốc trên làm thành hoàn to bằng hạt đậu xanh. Dùng 4g hoàn trước khi ngủ với nước ấm.

5.12. Bài thuốc điều trị chứng tê liệt do chấn thương

Dùng các vị thuốc: Xuyên khung, đỗ trọng, đại hoàng, quy vĩ, đào nhân, nhũ hương, một dược, xương bồ, xích thược, hồng hoa, huyết kiệt, ngưu tất mỗi vị 63g, hạt mã tiền chế 30g, trầm hương 12g, thổ miết trùng, hài nhi trà, bạch giới tử và ma hoàng mỗi vị 20g, manh trùng 8g.

Đem các vị thuốc trên tán thành bột mịn, chế với mật làm thành hoàn nặng 8g. Mỗi lần sử dụng 1/3 viên hoàn, sau đó tăng dần lên 1⁄2 viên hoàn cho đến khi đạt liều 2 viên hoàn/lần. Mỗi ngày uống 2 lần, nên uống cùng với nước đun sôi để nguội.
Khi nhận thấy các triệu chứng được cải thiện rõ rệt thì nên duy trì liều, không nên tăng thêm.

5.13. Bài thuốc điều trị chứng điên giản (động kinh) lên cơn nhiều lần

Sử dụng các vị thuốc: Dầu vừng 1kg, giun đất sấy khô 8 con (đem nghiền thành bột), hạt mã tiền (bỏ lông ngoài) 32g.
Cho dầu vào chảo, đun sôi, sau đó thả hạt mã tiền vào chiên đến khi hạt chuyển sang màu đỏ tía thì vớt ra, để ráo và nghiền thành bột. Trộn đều với bột giun đất, dùng bột mì làm thành hồ và trộn đều, làm viên hoàn to bằng hạt cải. Nên sử dụng vào buổi tối trước khi đi ngủ, uống 0.35 – 1g với nước muối.

5. 14. Bài thuốc điều trị cổ họng sưng đau

Sử dụng các vị thuốc: Sơn đậu căn, thanh mộc hương và mã tiền chế với lượng bằng nhau. Đem tán thành bột mịn, sau đó thổi bột vào trong họng.

5. 15. Bài thuốc điều trị chấn thương do té ngã

Dùng hai vị thuốc chỉ xác và hạt mã tiền với lượng bằng nhau. Đem hạt mã tiền ngâm với đồng tiện trong 49 ngày, vớt ra để ráo, cạo bỏ lông và thái thành lát, sao tồn tính, hạ thổ.
Chỉ xác cũng ngâm với đồng tiện trong 49 ngày, vớt để ráo, phơi cho khô hoàn toàn. Sau đó thái lát, sao tồn tính hạ thổ. Đem hai vị thuốc đã chế nghiền thành bột, dùng 1.2 – 2g/ ngày, nên uống luân phiên cùng với rượu trắng và đường đỏ.

5. 16. Bài thuốc điều trị bỏng do lửa, vết thương do dao búa

Dùng bột mã tiền chế và 1 ít rượu, trộn đều và đắp lên chỗ bỏng. Với vết thương hở, bạn nên rắc bột thuốc trực tiếp lên.

Mã tiền là một vị thuốc quý, có tác dụng chữa trị nhiều bệnh lý. Tuy nhiên vị thuốc này có độc tính rất mạnh vì vậy bạn chỉ nên sử dụng khi có yêu cầu của thầy thuốc.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Facebook
0909009009